Nhiều người muốn hỏi một câu chung chung: kết hôn là lỗ hay lãi. Câu hỏi đó nhồi vào mấy thứ khác nhau. Đối phương có cho bạn sự đỡ đẻm tinh thần không. Có chia việc nhà không. Có kiếm được tiền không. Và có phải kết hôn để hài lòng bố mẹ người thân không. Mấy thứ đó không quy đổi được về cùng một đơn vị, gộp lại thì không có câu trả lời, nên bài này tách ra tính từng khoản. Mỗi khoản chỉ dùng số trong thống kê chính thức hoặc trong phân tích tổng hợp (gộp nhiều nghiên cứu lại rồi tính). Chỗ nào không tính được thì bài này nói thẳng là không tính được. Cuối bài có một bảng để bạn tự điền, và toàn bài không đưa ra kết luận nên kết hôn hay không.
1. Trước hết tách câu hỏi ra
Câu hỏi "kết hôn có đáng không" chứa ít nhất năm khoản chi. Năm khoản đó dùng đơn vị khác nhau, cách tính cũng khác nhau, không cộng vào nhau được.
- Tiền: một là tiền cưới, đám cưới, nhà cưới mà bạn phải bỏ ra thật. Hai là pháp luật quy định tài sản thuộc về ai. Mục thứ nhất không có thống kê chính thức, mục thứ hai có điều khoản văn bản rõ ràng.
- Thời gian: việc nhà, chăm sóc người thân, nhường nhịp cho công việc của đối phương. Đây là loại lao động làm xong không ai trả tiền, nên tính bằng số phút mỗi ngày.
- Sức khỏe: tỷ lệ tử vong của người đã kết hôn và người chưa kết hôn chênh nhau bao nhiêu. Khoản này chỉ cho thấy hai việc xuất hiện cùng lúc, không cho thấy khoảng cách đó do kết hôn gây ra.
- Rủi ro pháp lý: tài sản chia thế nào, muốn ra khỏi hôn nhân phải mất bao lâu, những đóng góp nào còn đòi lại được một khoản bồi hoàn. Khoản này xem các điều luật viết thế nào.
- Chất lượng quan hệ: đối phương có cho bạn sự đỡ đẻm tinh thần không, hai người cãi nhau đến mức nào. Khoản này chỉ đo được bằng độ mạnh của mối liên hệ mà nghiên cứu tính ra, không đổi được thành tiền, cũng không đổi được thành thời gian.
Khoản thứ năm khó đổi thành số nhất, nhưng lại gần với điều phần đông người muốn hỏi nhất.
2. Số liệu và nguồn của từng khoản
Số liệu đăng ký: tỷ lệ kết hôn và tỷ lệ ly hôn là hai loại tỷ lệ thô
Số liệu lấy từ Bộ Dân vụ, Báo cáo thống kê công tác dân vụ năm 2024. Năm 2024 cả nước có 6.106.000 cặp đăng ký kết hôn theo pháp luật, ít hơn năm trước 20.5%, tỷ lệ kết hôn là 4.3‰. Có 3.513.000 cặp hoàn tất thủ tục ly hôn theo pháp luật, tỷ lệ ly hôn là 2.5‰. Trong 3.513.000 cặp đó, 2.622.000 cặp đăng ký ly hôn tại cơ quan dân vụ, 891.000 cặp do tòa án tuyên hoặc hoà giải cho ly hôn. Ghi chú trong báo cáo nói rõ hai tỷ lệ này tính thế nào: lấy số cặp kết hôn (ly hôn) trong năm đó, chia cho dân số tổng trung bình của năm đó, rồi nhân với 1.000‰.
Hai tỷ lệ này cùng lấy toàn bộ dân số làm mẫu số, nên gọi là tỷ lệ thô. Chữ "thô" nghĩa là không chia nhỏ. Nó trả lời câu hỏi năm nay cứ một nghìn người thì có bao nhiêu cặp đi đăng ký kết hôn hoặc ly hôn, chứ không trả lời một cuộc hôn nhân có tan hay không. Để trả lời câu sau phải có dữ liệu theo dõi cùng một nhóm người trong thời gian dài. Bài này không tìm thấy dữ liệu như vậy trong bản chính thức.
Khoản sức khỏe: người đã kết hôn có tỷ lệ tử vong thấp hơn, nhưng đó là tương quan chứ không phải nhân quả
Có ba phân tích tổng hợp gộp nhiều nghiên cứu lại với nhau, và độ lớn mà chúng đưa ra là như nhau. "Tử vong toàn nguyên" dùng bên dưới nghĩa là mọi ca chết cộng lại, không phân biệt nguyên nhân.
- Manzoli và cộng sự (2007) gộp 53 nhóm so sánh, hơn 250.000 người cao niên. "Không có trong hôn nhân" ở đây gồm ba loại: người goá, người ly hôn hoặc sống ly hôn, và người chưa bao giờ kết hôn. So với ba loại kia, người đã kết hôn có RR tử vong toàn nguyên 0.88, thấp hơn khoảng một phần hai. RR là tỷ số rủi ro tử vong của hai nhóm, nhỏ hơn 1 nghĩa là phía đã kết hôn thấp hơn. 95% CI 0.85–0.91 là khoảng tin cậy của con số này. Tách ba loại ra mà xét thì người goá là 1.11, người ly hôn hoặc sống ly hôn là 1.16, người chưa kết hôn là 1.11, cao hơn lần lượt khoảng một phần, một phần sáu và một phần. Tách nam nữ, tách nghiên cứu làm tốt hay làm kém, tách châu Âu và châu Mỹ thì kết quả không đổi. Tính lại bằng cách thận trọng nhất thì RR là 0.94, chỉ thấp hơn khoảng sáu phần trăm.
- Roelfs và cộng sự (2011) gộp 95 tài liệu, hơn 500 triệu người. Người chưa bao giờ kết hôn có HR tử vong toàn nguyên 1.24 so với người đã kết hôn, cao hơn khoảng hai phần tư. HR cũng là một bội số như RR, lớn hơn 1 nghĩa là rủi ro cao hơn. 1.19–1.30 là khoảng tin cậy của con số này. Người càng lớn tuổi thì khoảng cách đó càng nhỏ. Nghiên cứu càng làm nghiêm thì khoảng cách tính ra càng nhỏ.
- Wang và cộng sự (2020) gộp 21 nghiên cứu, hơn 7.890.000 người. Không ở trong hôn nhân có liên hệ với tử vong toàn nguyên, tử vong do ung thư và tử vong do tim mạch, ở cả nam lẫn nữ. Ở nam, liên hệ với tử vong do tim mạch và tử vong toàn nguyên mạnh hơn. Nam chưa bao giờ kết hôn có nguy cơ chết vì đột quỵ cao hơn 31% so với nữ chưa bao giờ kết hôn, tử vong toàn nguyên cao hơn 9%.
Cả ba nghiên cứu chỉ theo dõi và ghi nhận nhóm người, không chia nhóm đối chứng. Người có sức khỏe tốt, thu nhập cao, quan hệ xã hội nhiều vốn dễ kết hôn hơn, và cũng vốn dễ sống lâu hơn. Đó gọi là hiệu ứng chọn lọc. Bài Manzoli còn thấy dấu hiệu thiên lệch công bố. Thiên lệch công bố nghĩa là nghiên cứu có kết quả đẹp dễ được công bố hơn, nên khi gộp lại sẽ nghiêng về lạc quan. Vì vậy các con số này chỉ đọc được là tỷ lệ tử vong trong nhóm đã kết hôn thấp hơn một chút, không đọc thành "kết hôn là bạn sẽ chết ít đi 12%". Mẫu của các nghiên cứu này chủ yếu là dân ở châu Âu và châu Mỹ, dùng trong nước thì chỉ làm một mốc độ lớn.
Khoản thời gian: chênh lệch giới tính trong lao động không công là một mốc trần
Số liệu lấy từ Cục Thống kê Quốc gia, Tổng điều tra sử dụng thời gian lần thứ ba, tiến hành tháng 5 năm 2024. Làm rõ ba từ trước. Lao động không công là phần việc làm xong không ai trả tiền. "Người tham gia" là người thật sự làm việc đó trong ngày. "Tỷ lệ tham gia" là tỷ lệ người làm việc đó trong ngày. Kết quả như sau. Người tham gia lao động không công dành trung bình 2 giờ 45 phút mỗi ngày, trong đó nam 1 giờ 52 phút, nữ 3 giờ 29 phút. Tỷ lệ tham gia là 75.6%, nam 67.5%, nữ 83.9%. Riêng việc nhà, tính bình quân trên tất cả cư dân là 1 giờ 17 phút mỗi ngày. Chỉ tính người thật sự làm trong ngày đó thì là 1 giờ 59 phút, ít hơn 28 phút so với năm 2018, tỷ lệ tham gia 64.9%. Riêng việc ở bên chăm sóc người thân, tính bình quân trên tất cả cư dân là 30 phút. Chỉ tính người thật sự làm trong ngày đó thì là 1 giờ 46 phút, tỷ lệ tham gia 28.4%.
Khảo sát lần thứ hai năm 2018 cho kết quả như sau. Việc nhà tính bình quân trên tất cả cư dân là 1 giờ 26 phút, trong đó nam 45 phút, nữ 2 giờ 6 phút. Tỷ lệ tham gia: nam 40.4%, nữ 75.6%. Chăm sóc sinh hoạt của trẻ nhỏ tính bình quân trên tất cả cư dân là 36 phút, trong đó nam 17 phút, nữ 53 phút. Tỷ lệ tham gia: nam 12.3%, nữ 25.1%.
Cả hai khảo sát chỉ chia theo giới tính, theo thành thị và nông thôn, và theo độ tuổi, không chia theo đã kết hôn hay chưa. Nên câu hỏi "sau khi kết hôn mỗi ngày phải làm thêm bao nhiêu việc nhà" không có số liệu chính thức. Cái dùng được là khoảng cách giữa nam và nữ. Năm 2024, khoảng cách nam nữ trong lao động không công là 1 giờ 37 phút. Nếu việc chia việc nhà chưa nói rõ, hai người có thể kéo ra khoảng cách nhiều nhất là như vậy.
Khoản tiền: quy tắc mặc định, thỏa thuận bằng văn bản và bồi hoàn việc nhà
Tiền cưới, đám cưới, nhà cưới không có thống kê chính thức, nên bài này không đưa số. Cái viết rõ được là các quy tắc trong phần Luật Dân sự và Gia đình của Bộ luật Dân sự. Bộ luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021.
- Điều 1062: từ ngày kết hôn đến ngày ly hôn, bốn loại tài sản có được trong khoảng thời gian đó đều là tài sản chung của hai người. Một là lương, thưởng và tiền công lao động. Hai là lợi nhuận kinh doanh và đầu tư. Ba là lợi ích từ quyền sở hữu trí tuệ. Bốn là tài sản thừa kế hoặc được người khác tặng. Loại thứ tư có một ngoại lệ: nếu di chúc hoặc hợp đồng tặng ghi rõ chỉ cho một người thì không phải tài sản chung. Cả hai người có quyền xử lý tài sản chung ngang nhau.
- Điều 1063: có bốn loại là tài sản riêng, khi ly hôn không vào tài sản chung. Một là tài sản có trước khi kết hôn. Hai là khoản bồi thường hoặc bồi thường bù do bị tổn thương thân thể. Ba là tài sản mà di chúc hoặc hợp đồng tặng ghi rõ thuộc về một bên. Bốn là đồ dùng sinh hoạt riêng của một người.
- Điều 1065: tài sản trước và sau kết hôn thuộc về ai, hai người có thể tự thỏa thuận. Có thể thỏa thuận mỗi người giữ phần mình, có thể thỏa thuận toàn bộ là chung, cũng có thể thỏa thuận một phần giữ riêng, một phần làm chung. Thỏa thuận này phải viết thành văn bản, đã viết thì ràng buộc pháp lý đối với cả hai người. Không thỏa thuận, hoặc thỏa thuận không rõ ràng, thì áp dụng hai điều trên.
- Điều 1088: một bên vì chăm con, chăm người lớn tuổi, giúp bên kia làm việc mà đóng góp nhiều hơn, thì khi ly hôn có thể đòi bên kia một khoản bồi hoàn. Bồi bao nhiêu thì trước hết hai người tự thương lượng, không thỏa thuận được thì tòa án quyết.
Bộ quy tắc này dùng được cho cả hai bên. Bên nào kiếm được nhiều tiền hơn thì xem kỹ Điều 1062 và Điều 1065. Bên nào ở nhà làm nhiều việc hơn thì xem kỹ Điều 1088. Thỏa thuận về tài sản chỉ được yêu cầu viết thành văn bản, pháp luật không yêu cầu công chứng tại văn phòng công chứng.
Chi phí thoát ra: thời gian cân nhắc và điều kiện kiện tụng
- Điều 1076: hai người cùng muốn ly hôn thì trước hết ký một thỏa thuận ly hôn bằng văn bản, rồi tự mình đến cơ quan đăng ký hôn nhân nộp đơn. Trong thỏa thuận phải ghi rõ con cái theo ai, tài sản và nợ nợ xử lý ra sao. Những nội dung này đều phải là điều hai người đã nói với nhau thống nhất.
- Điều 1077: trong ba mươi ngày tính từ ngày cơ quan đăng ký nhận được đơn, một trong hai bên đổi ý thì đều có thể rút đơn. Ba mươi ngày đó là thời gian cân nhắc thường gọi. Trong ba mươi ngày sau khi hết thời gian cân nhắc, hai người phải tự đến nộp đơn nhận giấy chứng nhận ly hôn, không đến thì coi như rút đơn.
- Điều 1079: một bên muốn ly hôn, bên kia không đồng ý, có thể trước hết hoà giải, cũng có thể trực tiếp khởi kiện tại tòa án. Đã đến tòa án thì tòa cũng phải hoà giải trước. Tòa xác nhận tình cảm đã thực sự vỡ và hoà giải không có tác dụng thì phải tuyên cho ly hôn. Những tình huống dưới đây, hoà giải không có tác dụng thì phải tuyên cho ly hôn: kết hôn hai vợ chồng hoặc sống chung với người khác; bạo lực gia đình, hành hạ hoặc bỏ rơi; thói quen xấu như cờ bạc, nghiện ma túy mà đã nhiều lần nhắc vẫn không bỏ; ly trì do bất hòa đủ hai năm. Còn một tình huống nữa: lần đầu tuyên không cho ly hôn, sau đó hai người lại ly trì đủ một năm thì khởi kiện lại phải tuyên cho ly hôn.
Trong 3.513.000 cặp ly hôn năm 2024 có 891.000 cặp đi qua tuyên án hoặc hoà giải của tòa án. Thời gian cân nhắc chỉ áp dụng cho ly hôn đăng ký, ly hôn kiện tụng tại tòa thì không áp dụng.
Chất lượng quan hệ: khoản đáng tính hơn "có kết hôn hay không"
Robles và cộng sự (2014) gộp 126 nghiên cứu, hơn 72.000 người. Kết luận là chất lượng hôn nhân càng cao thì sức khỏe càng tốt. Mức độ hai việc đi cùng nhau được đo bằng một con số tên là cỡ tác động r. r càng gần 0 thì hai việc gần như không liên quan. Trị tuyệt đối của r càng lớn thì càng đi sát nhau. Dấu trừ trước r nghĩa là cái này cao thì cái kia thấp. r của các mối liên hệ này nằm trong khoảng 0.07 đến 0.21. Với nguy cơ tử vong, r = 0.11. Với phản ứng tim mạch khi hai người xảy ra xung đột, r = −0.13. Các giá trị này đều không lớn. Nhưng mối liên hệ giữa hành vi sức khỏe như ăn uống có đàng hoàng hay không và sức khỏe cũng cùng cỡ ấy. Một phần kết quả có thiên lệch công bố, vì kết quả đẹp dễ được công bố hơn. Có nghiên cứu đã kiểm tra riêng khác biệt giữa nam và nữ, và gần như không thấy khác biệt. Phần lớn các nghiên cứu này chỉ theo dõi và ghi nhận, không chia nhóm đối chứng, nên không suy ra được nhân quả. Bài tổng quan về tim mạch của Dhindsa và cộng sự (2020) cũng chỉ ra rằng việc hài lòng hay không với cuộc hôn nhân, chất lượng hôn nhân tốt hay xấu, có ảnh hưởng rõ rệt đến nguy cơ tim mạch.
Bài này không tìm thấy phân tích tổng hợp nào lấy tỷ lệ tử vong của "hôn nhân chất lượng kém" đem so trực tiếp với "không kết hôn". Vì vậy "hôn nhân tệ còn không bằng không kết hôn" hiện chỉ là lời suy ra, không có số liệu đứng sau. Chỗ đứng được là thế này. Chênh lệch "đã kết hôn hay chưa" có lẫn hiệu ứng chọn lọc vào, còn "chất lượng hôn nhân tốt hay xấu" là một việc khác, độc lập riêng. Chỉ nhìn đã kết hôn hay chưa mà không nhìn sống thế nào thì bỏ mất trọn khoản chất lượng quan hệ.
3. Tự tính cho mình: một bảng điền chỗ trống
Điền từng khoản một. Đừng cộng số của các khoản khác nhau vào nhau. Ô nào không điền được thì ghi "không biết". Bản thân "không biết" cũng là thông tin có ích.
Đối phương mang lại được gì (điền từng dòng một)
- Tiền: thu nhập của đối phương bao nhiêu, nợ bao nhiêu, trước khi kết hôn có tài sản gì. Tài sản sau khi kết hôn thì theo quy tắc mặc định của pháp luật, hay phải viết một thỏa thuận bằng văn bản. Nếu viết thỏa thuận thì ghi những gì vào đó.
- Thời gian: hiện giờ mỗi ngày đối phương làm bao nhiêu việc nhà và việc chăm sóc không ai trả tiền. Có thể đối chiếu với số bình quân cả nước: trong số người thật sự làm trong ngày, nam 1 giờ 52 phút, nữ 3 giờ 29 phút. Sau khi kết hôn những việc này chia thế nào. Khi có con cái và có người lớn tuổi trong nhà cần người chăm thì chia thế nào. Công việc của ai trong hai người có thể đẩy sau.
- Chất lượng quan hệ: nửa năm qua hai người xung đột mấy lần, mỗi lần kết thúc ra sao. Khi bạn bệnh, thất việc, tâm trạng tụt thì đối phương làm gì. Ngược lại, khi đối phương gặp mấy chuyện đó thì bạn làm gì.
- Giá trị tinh thần: ở bên đối phương, bạn thấy mình có thêm sức hay bị rút cạn. Chuyện này phải ở chung vài tháng mới thấy, chỉ nhìn danh sách điều kiện thì không thấy.
Bạn phải bỏ ra gì (điền từng dòng một)
- Tiền: bản thân việc kết hôn tốn bao nhiêu, gồm tiền cưới, đám cưới, nhà cưới. Nếu không kết hôn thì số tiền đó sẽ dùng vào việc gì.
- Thời gian: ước tính mỗi ngày phải làm thêm bao nhiêu việc nhà và việc chăm sóc. Rồi ước tính mỗi tuần phải mất thêm bao nhiêu thời gian cho các quan hệ xã giao.
- Sức khỏe: giờ ngủ, cách ăn, việc tập thể dục của bạn tốt lên hay xấu đi vì kết hôn. Điều đó gần với bạn hơn những con số mà phân tích tổng hợp tính ra.
- Chi phí thoát ra: nếu ly hôn đăng ký thì phải chờ 30 ngày thời gian cân nhắc trước, rồi trong 30 ngày tiếp theo đi nhận giấy chứng nhận. Nếu kiện tụng tại tòa thì phải rơi vào một trong các tình huống nêu ở Điều 1079. Trong khoảng thời gian đó bạn gánh chịu nổi không.
Pháp luật bảo vệ bạn thế nào (áp dụng cho cả hai bên)
- Tài sản trước khi kết hôn có giấy tờ chứng minh không, chẳng hạn hợp đồng mua nhà, sao kê ngân hàng, hợp đồng tặng, di chúc. Những giấy tờ đó có chứng minh được nó "đã có trước khi kết hôn", hoặc "ghi rõ chỉ thuộc về một bên" không.
- Có nên ký một thỏa thuận tài sản bằng văn bản không. Thỏa thuận đó chỉ tính tài sản trước khi kết hôn, chỉ tính phần kiếm được sau khi kết hôn, hay tính cả hai đầu.
- Sau khi kết hôn ai làm việc nhà và việc chăm sóc nhiều hơn. Bên làm nhiều hơn có biết theo Điều 1088 thì được đòi một khoản bồi hoàn không. Hai người có chịu thỏa thuận trước cách tính khoản bồi hoàn không.
- Nợ: số tiền vay sau khi kết hôn dưới danh nghĩa cá nhân, phần nào được tính là nợ chung của hai người. Bên kia có biết số tiền đó không.
Cột kết hôn vì bố mẹ người thân thì điền riêng
- Bố mẹ người thân được gì: yên tâm, giữ được thể diện, không còn bị thúc cưới, sau này có người lo.
- Trong mấy điều đó, cái nào thật sự là lợi cho bố mẹ người thân, cái nào thực chất là lợi cho bạn.
- Ba dòng trên, chi phí do bạn một mình gánh. Những lợi ích bố mẹ người thân có được sẽ không tự động thành sức khỏe của bạn, cũng không tự động thành chất lượng quan hệ của bạn.
- Viết tách bạch như thế xong, khoản này nặng hay nhẹ thì người điền tự đánh giá.
4. Những chỗ hiểu sai thường gặp
Nhầm hai loại tỷ lệ ly hôn. Một là tỷ lệ ly hôn thô, tính cứ một nghìn người thì có bao nhiêu cặp ly hôn, năm 2024 là 2.5‰. Loại kia là "tỷ số ly hôn trên kết hôn", tính số cặp ly hôn trong năm chia cho số cặp kết hôn trong năm, 3.513.000 / 6.106.000 ≈ 57.5%. Tử số và mẫu số của tỷ số đó không phải cùng một nhóm người, phần lớn người ly hôn năm nay đã kết hôn từ nhiều năm trước. Số người kết hôn ít đi thì tỷ số này tự động nhảy lên, nên nó không chứng minh được "một nửa các cuộc hôn nhân sẽ tan". Báo cáo của Bộ Dân vụ cũng không có chỉ số này.
Coi "xuất hiện cùng lúc" thành "vì thế nên là". Người đã kết hôn có tỷ lệ tử vong thấp hơn khoảng 12%, đó là kết quả gộp nhiều nghiên cứu lại. Nhưng sức khỏe tốt, thu nhập cao, quan hệ xã hội nhiều vốn ảnh hưởng đến cả hai việc cùng lúc: khả năng kết hôn, và khả năng sống lâu. Khoản này tính được, nhưng phải đọc có giảm sút, và không thay thế được việc đánh giá mối quan hệ cụ thể trước mắt bạn.
Coi việc kết hôn là một nhiệm vụ phải hoàn thành. Khi là nhiệm vụ, người ta chỉ nhìn trạng thái "đã kết hôn chưa", không nhìn "sống thế nào". Nhưng chất lượng quan hệ ảnh hưởng tới sức khỏe độc lập với việc đã kết hôn hay chưa, và cách quyết định theo kiểu nhiệm vụ thường bỏ mất trọn khoản đó.
Coi số bình quân cả nước thành số của mình. Chênh lệch nam nữ trong khảo sát sử dụng thời gian là số bình quân cả nước. Quy tắc về tài sản là cài đặt mặc định mà pháp luật đưa ra, có thể đổi bằng một thỏa thuận bằng văn bản. Số liệu cả nước chỉ cho bạn một độ lớn và một điểm xuất phát để đàm phán, không cho bạn kết luận.
Chỗ nào không có số liệu chính thức thì đừng lấy số từ nguồn ngoài để điền. Tiền cưới, đám cưới, chi phí nuôi con đều không có thống kê chính thức, nên bài này để trống. Tự điền số thật của mình còn chính xác hơn là dẫn ước tính của bất kỳ cơ quan nào.
Nguồn
- 民政部 (2025). 2024 年民政事业发展统计公报(五(二)1 婚姻登记服务、注释 5). https://www.mca.gov.cn/n1288/n1294/n1554/c1662004999980006190/content.html(PDF:https://www.mca.gov.cn/gdnps/n2445/n2451/n2458/n2681/c1662004999980006189/attr/400985.pdf)
- 国家统计局 (2024). 第三次全国时间利用调查公报(第一号、第二号、第三号). https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202410/t20241031_1957217.html、https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202410/t20241031_1957216.html、https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202410/t20241031_1957215.html;国家统计局社科文司负责人答记者问. https://www.stats.gov.cn/sj/sjjd/202410/t20241031_1957218.html
- 国家统计局 (2019). 2018 年全国时间利用调查公报. https://www.stats.gov.cn/sj/zxfb/202302/t20230203_1900224.html
- 全国人民代表大会 (2020). 中华人民共和国民法典(第一千零六十二、一千零六十三、一千零六十五、一千零七十六、一千零七十七、一千零七十九、一千零八十八条). 国家法律法规数据库 https://flk.npc.gov.cn/detail?title=中华人民共和国民法典&id=ff808081729d1efe01729d50b5c500bf;条文全文见最高人民法院公报转载 http://gongbao.court.gov.cn/Details/7f184078694d811fb3314f6af9accf.html
- 民政部 (2020). 关于贯彻落实《中华人民共和国民法典》中有关婚姻登记规定的通知(民发〔2020〕116 号). https://www.gov.cn/zhengce/zhengceku/2020-12/04/content_5567010.htm
- Manzoli L, Villari P, Pirone GM, Boccia A (2007). Marital status and mortality in the elderly: a systematic review and meta-analysis. Soc Sci Med 64:77–94. https://doi.org/10.1016/j.socscimed.2006.08.031
- Roelfs DJ, Shor E, Kalish R, Yogev T (2011). The rising relative risk of mortality for singles: meta-analysis and meta-regression. Am J Epidemiol 174(4):379–389. https://doi.org/10.1093/aje/kwr111
- Wang Y, Jiao Y, Nie J, et al. (2020). Sex differences in the association between marital status and the risk of cardiovascular, cancer, and all-cause mortality: a systematic review and meta-analysis of 7,881,040 individuals. Glob Health Res Policy 5:4. https://doi.org/10.1186/s41256-020-00133-8
- Robles TF, Slatcher RB, Trombello JM, McGinn MM (2014). Marital quality and health: a meta-analytic review. Psychol Bull 140(1):140–187. https://doi.org/10.1037/a0031859
- Dhindsa DS, Khambhati J, Schultz WM, Tahhan AS, Quyyumi AA (2020). Marital status and outcomes in patients with cardiovascular disease. Trends Cardiovasc Med 30(4):215–220. https://doi.org/10.1016/j.tcm.2019.05.012
